Tin tức Deeper

Các nhà thiên văn học phát hiện ra di tích ở trung tâm của Supernova 1987A đã bị ẩn giấu trong hơn 30 năm

Ngày:
Th11 20, 2019
Tóm lược:

“Thức ăn” thừa từ một siêu tân tinh ngoạn mục đã cách mạng hóa sự hiểu biết của chúng ta về cách các ngôi sao kết thúc cuộc sống của chúng cuối cùng đã được các nhà thiên văn học phát hiện.

Share:
CÂU CHUYỆN ĐẦY ĐỦ

“Thức ăn” thừa từ một siêu tân tinh ngoạn mục đã cách mạng hóa sự hiểu biết của chúng ta về cách các ngôi sao kết thúc cuộc sống của chúng cuối cùng đã được các nhà thiên văn học tại Đại học Cardiff phát hiện.

Các nhà khoa học tuyên bố đã tìm thấy bằng chứng về vị trí của một ngôi sao neutron bị bỏ lại khi một ngôi sao khổng lồ kết thúc cuộc đời trong một vụ nổ khổng lồ dẫn đến một siêu tân tinh nổi tiếng có tên là Supernova 1987A.

Trong hơn 30 năm, các nhà thiên văn học đã không thể định vị được ngôi sao neutron – lõi còn sót lại của ngôi sao khổng lồ – vì nó bị che giấu bởi một đám mây bụi vũ trụ dày.

Sử dụng hình ảnh cực kỳ sắc nét và nhạy cảm được chụp bằng kính viễn vọng Atacama Large Millimét / Subillim Array (ALMA) ở sa mạc Atacama ở miền bắc Chile, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy một mảng đặc biệt của đám mây bụi sáng hơn môi trường xung quanh và phù hợp với nghi ngờ vị trí của sao neutron.

Những phát hiện đã được công bố trên Tạp chí Vật lý thiên văn .

Tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ Phil Cigan, từ Trường Vật lý và Thiên văn học thuộc Đại học Cardiff cho biết: “Lần đầu tiên chúng ta có thể nói rằng có một ngôi sao neutron bên trong đám mây này trong tàn dư siêu tân tinh. Ánh sáng của nó bị che khuất bởi một đám mây bụi rất dày, chặn ánh sáng trực tiếp từ ngôi sao neutron ở nhiều bước sóng như sương mù che khuất ánh đèn sân khấu. “

Mặc dù ánh sáng từ sao neutron bị hấp thụ bởi đám mây bụi bao quanh nó nhưng điều này lại khiến đám mây tỏa sáng dưới ánh sáng milimet mà giờ đây chúng ta có thể nhìn thấy kính thiên văn ALMA cực kỳ nhạy cảm. 

Supernova 1987A lần đầu tiên được các nhà thiên văn học phát hiện vào ngày 23/2/1987 khi nó rực sáng trên bầu trời đêm với sức mạnh của 100 triệu mặt trời và tiếp tục tỏa sáng rực rỡ trong vài tháng.

Siêu tân tinh được phát hiện ở một thiên hà lân cận – Đám mây Magellan Lớn – chỉ cách 160.000 năm ánh sáng.

Đó là vụ nổ siêu tân tinh gần nhất được quan sát thấy trong hơn 400 năm và kể từ khi phát hiện ra nó đã tiếp tục mê hoặc các nhà thiên văn học, người đã có cơ hội hoàn hảo để nghiên cứu các giai đoạn trước, trong và sau cái chết của một ngôi sao.

Vụ nổ siêu tân tinh xảy ra vào cuối cuộc đời của ngôi sao này dẫn đến một lượng khí khổng lồ với nhiệt độ hơn một triệu độ nhưng khi khí bắt đầu hạ nhiệt nhanh chóng xuống dưới 0 độ C, một phần khí biến thành chất rắn, tức là bụi.

Sự hiện diện của đám mây bụi dày này từ lâu đã là lời giải thích chính cho lý do tại sao ngôi sao neutron bị mất tích không được quan sát nhưng nhiều nhà thiên văn học đã nghi ngờ về điều này và bắt đầu đặt câu hỏi liệu sự hiểu biết của họ về cuộc sống của một ngôi sao có đúng không.

Phát hiện mới của các nhà khoa học giờ đây sẽ cho phép các nhà thiên văn học hiểu rõ hơn về việc các ngôi sao khổng lồ kết thúc cuộc sống của chúng như thế nào để lại đằng sau những ngôi sao neutron cực kỳ dày đặc này.

Nhóm nghiên cứu tin tưởng rằng ngôi sao neutron này tồn tại đằng sau đám mây và họ biết vị trí chính xác của nó. Có lẽ khi đám mây bụi bắt đầu sáng lên trong tương lai, các nhà thiên văn sẽ lần đầu tiên có thể nhìn thấy ngôi sao neutron.


Nguồn truyện:

Tài liệu được cung cấp bởi Đại học Cardiff . Lưu ý: Nội dung có thể được chỉnh sửa cho kiểu dáng và độ dài.


Tạp chí tham khảo :

  1. Phil Cigan, Mikako Matsuura, Haley L. Gomez, Remy Indebetouw, Fran Abellán, Michael Gabler, Anita Richards, Dennis Alp, Timothy A. Davis, Hans-Thomas Janka, Jason Spyromilio, MJ Barlow, David Burrows, Eli Dwek, Clans , Bryan Gaensler, Josefin Larsson, P. Bouchet, Peter Lundqvist, JM Marcaide, C.-Y. Ng, Công viên Sangwook, Pat Roche, Jacco Th. van Loon, JC Wheeler, Jacanna Zanardo. Hình ảnh ALMA có độ phân giải góc cao của bụi và phân tử trong SN 1987A Ejecta . Tạp chí Vật lý thiên văn , 2019; 886 (1): 51 DOI: 10.3847 / 1538-4357 / ab4b46

Bài viết liên quan

Bài viết khác